Kế toán & tình huống pháp lý – Phần 16
Hợp đồng thuê dịch vụ
Video trước: Kế toán & tình huống pháp lý – Phần 15
Tình huống 48: thuê dịch vụ có nội dung trái với đạo đức xã hội
Để chào mừng ngày thành lập công ty, ông Nguyễn Văn A đã thuê một đoàn vũ công C về thực hiện chương trình ca nhạc. Tuy nhiên, trong nội dung chương trình, ông A yêu cầu đoàn vũ công C phải biểu diễn vài tiết mục sex show cho quan khách và đối tác công ty xem.

Theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015, hợp đồng thuê dịch vụ biểu diễn này có hiệu lực pháp luật không?
Giải đáp (tư vấn) tình huống 48
Theo quy định tại Điều 513 Bộ luật dân sự năm 2015: “Hợp đồng dịch vụ là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cung ứng dịch vụ thực hiện công việc cho bên sử dụng dịch vụ, bên sử dụng dịch vụ phải trả tiền dịch vụ cho bên cung ứng dịch vụ”. Vì vậy, ông Nguyễn Văn A có quyền ký hợp đồng dịch vụ với bên cung ứng dịch vụ là đoàn vũ công C.
Tuy nhiên, tại Điều 514 Bộ luật dân sự năm 2015 thì pháp luật quy định các công việc là đối tượng của hợp đồng dịch vụ phải là công việc thực hiện được, không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội.
Do đó, việc thuê vũ đoàn C thực hiện vài tiết mục mang tính chất sex show là không phù hợp với đạo đức xã hội nên phần nội dung hợp đồng liên quan đến đối tượng công việc này sẽ bị vô hiệu.
Tình huống 49: dịch vụ đã hoàn thành nhưng hợp đồng chưa được ký kết
Cty TNHH A vừa hoàn thành xây dựng tòa nhà là trụ sở chính của công ty mình. Do công trình xây dựng vừa hoàn thành & còn rất nhiều bụi bẩn nên công ty A đến công ty B yêu cầu cung cấp dịch vụ vệ sinh công nghiệp cho mình. Hai bên thỏa thuận qua thư điện tử rằng thời gian thực hiện vệ sinh là 07 ngày, phí dịch vụ là 50 triệu đồng và hình thức hợp đồng sẽ là văn bản. Tuy nhiên, do giám đốc công ty B đang đi công tác nước ngoài 01 tháng mới về mà công ty A lại có nhu cầu vệ sinh sớm để kịp ngày khai trương trụ sở mới.

Do vậy, công ty A thỏa thuận với công ty B là cứ tiến hành công việc và bao giờ giám đốc của công ty B về thì hoàn thiện hợp đồng sau. Bên công ty A ứng trước 50% tiền phí dịch vụ (tức 25 triệu đồng) cho công ty B. Sau khi công việc hoàn thành xong, công ty B yêu cầu công ty A hoàn trả nốt số tiền (còn lại) thì công ty A viện lý do là hợp đồng chưa ký nên từ chối trả tiền dịch vụ.
Theo quy định Bộ luật dân sự năm 2015, công ty B có được thanh toán nốt số tiền còn lại không?
Giải đáp (tư vấn) tình huống 49
Theo khoản 2 Điều 117 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định “hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định” và tại Điều 129 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về “giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức” cho thấy pháp luật chỉ xem xét sự vô hiệu của một giao dịch dân sự (trong đó có hợp đồng) khi hình thức của giao dịch bị vi phạm, không tuân thủ theo quy định của pháp luật.
Trong trường hợp này, hợp đồng dịch vụ giữa công ty A và công ty B không bị pháp luật quy định bắt buộc về hình thức. Hình thức hợp đồng được xác định theo hình thức các bên thỏa thuận. Đồng thời, khi pháp luật không bắt buộc về mặt hình thức thì đây sẽ không là căn cứ để xác định hợp đồng vô hiệu.
Như vậy, hợp đồng dịch vụ giữa công ty A và công ty B không vô hiệu. Hơn nữa, công ty B đã hoàn thành công việc, công ty A cũng đã tạm ứng 50% giá trị tiền dịch vụ theo thỏa thuận trước đó và có các trao đổi trên thư điện tử chứng minh các bên đã thỏa thuận cũng như đã thực hiện đối tượng hợp đồng.
Do đó, trong trường hợp này công ty A có nghĩa vụ (phải) thanh toán nốt phần tiền dịch vụ còn lại cho công ty B theo đúng thỏa thuận.
Tình huống 50: ký hợp đồng vượt quá phạm vi được ủy quyền & hậu quả pháp lý
Công ty A chuyên cung cấp dịch vụ sửa chữa máy siêu âm cho các phòng khám, bệnh viện. Khi bệnh viện B bị hỏng máy siêu âm liền ký hợp đồng với công ty A, theo đó công ty A có thời gian khảo sát và sửa chữa máy là 07 ngày. Tiền thanh toán sẽ bao gồm: tiền thay thế các bộ phận máy móc (nếu có) và tiền dịch vụ sửa chữa (số tiền cố định). Khi tiến hành ký kết hợp đồng, do Giám đốc bệnh viện B đi công tác nên Phó giám đốc bệnh viện cho rằng, đây cũng là một công việc phát sinh trong thời gian Giám đốc đi vắng nên mình cũng có nghĩa vụ giải quyết, vì vậy ông trực tiếp ký kết hợp đồng dịch vụ.

Hai tuần sau, Giám đốc bệnh viện B về thì không đồng ý với việc ký kết hợp đồng này. Do vậy, Giám đốc bệnh viện B yêu cầu ngừng việc thanh toán cho công ty A mặc dù công ty A đã hoàn thành công việc sửa chữa và bệnh viện B đang tiếp tục tiến hành siêu âm cho bệnh nhân bằng chiếc máy (đã sửa) này.
Vậy, theo Bộ luật dân sự năm 2015, công ty A có được thanh toán khoản tiền theo hợp đồng đã ký hay không?
Giải đáp (tư vấn) tình huống 50
Trong tình huống này cho thấy người đại diện cho bệnh viện B ký kết hợp đồng đã thực hiện vượt quá phạm vi được ủy quyền bởi người đại diện pháp luật (Phó giám đốc bệnh viện). Tuy nhiên, công ty A đã thực hiện và hoàn thành công việc, đem lại lợi ích cho bệnh viện B. Bệnh viện B chỉ chưa thực hiện nghĩa vụ thanh toán tiền dịch vụ của mình.
Tình huống cũng cho thấy, Phó giám đốc bệnh viện có lỗi vô ý trong việc xác định phạm vi ủy quyền của mình. Công ty A không biết về việc Phó giám đốc không có thẩm quyền đại diện để ký hợp đồng.
Như vậy, nếu xét theo Điều 143 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về “hậu quả của giao dịch dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện vượt quá phạm vi đại diện” thì hợp đồng dịch vụ của công ty A với bệnh viện B không đương nhiên vô hiệu theo điểm c khoản 1 của Điều luật này.
Do đó, hậu quả của tình huống này sẽ được giải quyết theo khoản 2 Điều 143 Bộ luật dân sự năm 2015. Theo đó, nếu Giám đốc bệnh viện B không đồng ý với hợp đồng được giao kết và đã thực hiện thì chính Phó giám đốc bệnh viện B có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho bên công ty A.
Tình huống 51: thỏa thuận dịch vụ mà công việc không có khả năng thực hiện
Các ông A, ông B, ông C cùng nhau góp tiền mua mảnh đất và ký hợp đồng với chị D làm các thủ tục sang tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Chị D thường xuyên quảng cáo với mọi người rằng chị có nhiều mối quan hệ với cơ quan nhà nước để có thể làm nhanh chóng các thủ tục sang tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Khi các bên thống nhất xong với mức phí làm giấy tờ là 100 triệu đồng thì các ông A, B, C đã tạm ứng cho chị D số tiền 30 triệu đồng. Khi chị D hoàn thành hồ sơ và có giấy hẹn trả kết quả của cơ quan nhà nước thì bên mua (ông A, B, C) sẽ trả tiếp 50 triệu đồng.

Khi nào các ông A, B, C nhận được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên mình thì sẽ thanh toán nốt 20 triệu đồng tiền dịch vụ cuối cùng. Sau khi nhận 30 triệu đồng tạm ứng tiền dịch vụ, các ông A, B và C không thấy chị D thực hiện được bất cứ công việc gì nên yêu cầu chị D trả tiền lại cho họ. Chị D từ chối với lý do chị D không vi phạm hợp đồng mà là do cơ quan nhà nước có thẩm quyền không giải quyết do vướng mắc vì thủ tục và giấy tờ hành chính.
Theo Bộ luật dân sự năm 2015, bên mua có lấy lại được 30 triệu đồng không?
Giải đáp (tư vấn) tình huống 51
Công việc của chị D không được coi là dịch vụ vì bản thân chị D không được phép cung cấp dịch vụ môi giới sang tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Theo quy định về đối tượng của hợp đồng dịch vụ tại Điều 514 Bộ luật dân sự năm 2015 thì đây là công việc không có khả năng thực hiện nên hợp đồng giữa ông A, ông B và ông C với chị D không được coi là hợp đồng dịch vụ.
Thỏa thuận giữa ông A, ông B, ông C và chị D chỉ được coi là hợp đồng thực hiện một công việc. Giải quyết hậu quả pháp lý trong tình huống này sẽ tuân thủ theo nguyên tắc chung về thực hiện hợp đồng. Khi bên được thuê thực hiện một công việc và không có khả năng thực hiện công việc đó sẽ là căn cứ để cho bên thuê thực hiện việc hủy bỏ hợp đồng.
Tuy nhiên, trong tình huống này không cho thấy các bên có thỏa thuận về các trường hợp được hủy bỏ hợp đồng thì các bên sẽ tuân thủ theo quy định tại Điều 426 Bộ luật dân sự năm 2015. Các ông A, B, C có quyền hủy bỏ hợp đồng do chị D không có khả năng thực hiện.
Chị D có nghĩa vụ hoàn trả lại số tiền đã nhận (30 triệu đồng) và có thể phải bồi thường thiệt hại cho các ông A, B, C trong trường hợp các ông này có thiệt hại thực tế và có yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Phiên bản video