Kế toán & tình huống pháp lý – Phần 6
Giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Video trước: Kế toán & tình huống pháp lý – Phần 5
Tình huống 17: hợp đồng tặng cho tài sản là bất động sản
Ông Nguyễn Văn A có tặng cho con trai của mình là anh Nguyễn Văn B một mảnh đất 200m2 và ngôi nhà trên đất với mục đích để sau này anh B sẽ làm nơi thờ tự, hương hỏa cho tổ tiên. Hợp đồng tặng cho này đã được chứng thực tại Ủy ban nhân dân xã nơi cư trú của ông A và chưa được anh B đi đăng ký chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Nay, do anh B nhiều lần có hành vi chửi mắng đánh đập ông A nên ông A không muốn cho anh B nhà và quyền sử dụng đất của mình nữa.

Vậy, theo quy định tại Bộ luật dân sự năm 2015 ông A có quyền lấy lại nhà và quyền sử dụng đất không? Nếu có thì căn cứ vào cơ sở pháp lý nào?
Giải đáp (tư vấn) tình huống 17
Giữa ông Nguyễn Văn A và anh Nguyễn Văn B giao kết một hợp đồng tặng cho bất động sản có đối tượng gồm quyền sử dụng 200m2 đất và nhà ở gắn liền trên đất thuộc sở hữu hợp pháp của ông A. Hợp đồng này đã được chứng thực tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi đang cư trú của ông A.
Theo quy định tại Điều 459 Bộ luật dân sự năm 2015 về tặng cho bất động sản:
1. Tặng cho bất động sản phải được lập thành văn bản có công chứng, chứng thực hoặc đăng ký, nếu bất động sản (đó) phải đăng ký quyền sở hữu theo quy định pháp luật.
2. Hợp đồng tặng cho bất động sản có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký; nếu bất động sản không phải đăng ký quyền sở hữu thì hợp đồng tặng cho có hiệu lực kể từ thời điểm chuyển giao tài sản.
Căn cứ vào quy định này có thể thấy, đối với hợp đồng tặng cho bất động sản của ông A cho anh B tuy đã được lập thành văn bản và được chứng thực nhưng vẫn chưa có hiệu lực pháp luật do các bên chưa thực hiện việc đăng ký tài sản tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Chính vì vậy, ông A hoàn toàn có quyền lấy lại tài sản của mình mặc dù đã giao tài sản cho anh B sử dụng.
Tình huống 18: giao dịch mua bán căn hộ chung cư
Anh Bùi Việt G có ký kết hợp đồng viết tay bán căn hộ chung cư số 505 tòa nhà Trung tâm, đường T, thành phố B, tỉnh BN cho anh Bùi Ngọc Đ với giá thỏa thuận 2,5 tỷ đồng. Tại thời điểm ký kết, anh Đ có trả trước cho anh G 2 tỷ đồng, 500 triệu đồng còn lại các bên hẹn khi nào làm thủ tục đăng ký xong thì anh Đ sẽ thanh toán. Nay, do giá nhà tăng cao, anh G không muốn bán nhà nữa với lý do hợp đồng mua bán này các bên chưa công chứng nên không có hiệu lực.

Theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015, hợp đồng mua bán nhà ở giữa anh G và anh Đ có hiệu lực pháp luật không? Anh G có bắt buộc phải giao lại nhà cho anh Đ không?
Giải đáp (tư vấn) tình huống 18
Giữa anh Bùi Việt G và anh Bùi Ngọc Đ đã ký kết một hợp đồng mua bán viết tay căn nhà chung cư số 505 tòa nhà Trung tâm, đường T, thành phố BN tỉnh BN. Theo quy định tại khoản 1 Điều 122 Luật nhà ở năm 2014 về việc công chứng, chứng thực hợp đồng và thời điểm có hiệu lực của hợp đồng về nhà ở:
"1. Trường hợp mua bán, tặng cho, đổi, góp vốn, thế chấp nhà ở, chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà ở thương mại thì phải thực hiện công chứng, chứng thực hợp đồng, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này. Đối với các giao dịch tại khoản này thì thời điểm có hiệu lực của hợp đồng là thời điểm công chứng, chứng thực hợp đồng".
Căn cứ theo quy định trên thì hợp đồng mua bán nhà ở giữa anh G và anh Đ bắt buộc phải đi công chứng hoặc chứng thực. Do hai bên chưa đi công chứng, chứng thực nên hợp đồng này chưa phát sinh hiệu lực của các bên.
Tuy nhiên, căn cứ vào khoản 2 Điều 129 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ về mặt hình thức:
"2. Giao dịch dân sự đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chúng thực mà một bên hoặc các bên thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó. Trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực".
Có thể thấy rằng, tại thời điểm giao kết hợp đồng mua bán ngôi nhà giá 2,5 tỷ đồng, anh Đ đã chuyển giao cho anh G số tiền 2 tỷ đồng tức là anh Đ đã thực hiện được hơn hai phần ba nghĩa vụ của hợp đồng.
Vì vậy, anh Đ hoàn toàn có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của hợp đồng mua bán này và không cần phải đi công chứng hay chứng thực nữa mặc dù hợp đồng đã vi phạm về mặt hình thức do Luật nhà ở năm 2014 quy định.
Tình huống 19: giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Bà Nguyễn Thị N có ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất 500m2 - đất thuộc quyền sử dụng của bà N cho ông Vũ Đức T với giá 3 tỷ đồng. Hai bên đã làm hợp đồng viết tay, ông T có trả trước 1,5 tỷ đồng cho bà N. Hai bên có thỏa thuận số tiền còn lại ông T sẽ trả cho bà N khi nào hoàn thành thủ tục đăng ký sang tên. Do giá trị mảnh đất bị giảm sút, nên ông T không muốn tiếp tục thực hiện hợp đồng với bà N nữa nên đã lấy lý do hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông và bà N không có hiệu lực pháp luật vì chưa đi công chứng, chứng thực hợp đồng và làm đơn ra Tòa đòi lại 1,5 tỷ đồng từ bà N.

Theo quy định của pháp luật hiện hành yêu cầu của ông T có hợp pháp không? Tại sao?
Giải đáp (tư vấn) tình huống 19
Ông T có quyền đòi 1,5 tỷ đồng từ bà N với do hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng 500m2 đất giữa ông T và bà N là không có hiệu lực pháp luật vì căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 167 Luật đất đai năm 2013 về quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thể chấp, góp vốn quyền sử dụng đất:
"3. Việc công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện các quyền của người sử dụng đất được thực hiện như sau: a) Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thể chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp kinh doanh bất động sản quy định tại điểm b khoản này".
Theo quy định này, hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng đất giữa bà N và ông T bắt buộc phải lập thành văn bản và phải được công chứng hoặc chứng thực. Tuy nhiên, khi giao kết hợp đồng, bà N và ông T đã không thực hiện đúng yêu cầu của pháp luật, chính vì vậy, hợp đồng mua bán quyền sử dụng đất giữa bà N và ông T có thể bị án tuyên vô hiệu do vi phạm quy định về mặt hình thức của hợp đồng.
Theo quy định của pháp luật hiện hành yêu cầu của ông T là hợp pháp
Phiên bản video