Quẻ tự xem bệnh bản thân – Tăng San Bốc Dịch
Ví dụ 3 (xem bệnh): Ngày Ất Mùi tháng Tị, tự xem bệnh, được quẻ 'Đại Quá biến Đỉnh’
Can chi: Ngày Ất Mùi tháng Tị (tuần không: Thìn Tị)

Dã Hạc luận: Tự xem bệnh lấy hào Thế Hợi thủy làm Dụng thần, bị Kỵ thần Mùi thổ động mà khắc thủy, may mắn là nguyên thần Dậu kim cũng động, Kỵ thần Mùi thổ ngược lại sinh nguyên thần Dậu kim, kim sinh Hợi thủy, liên tục tương sinh, hóa hung thành cát. Nhưng Hợi thủy Nguyệt xung Nhật khắc, trị Nguyệt phá mà bị khắc, tuy có sinh phù thì sinh phù cũng không dậy nổi, như cây không có rễ, lạnh cốc xuân không về. Quả chết vào ngày Quý Mão. Ứng ngày Mão là ngày xung mất nguyên thần. Cái này gọi là Dụng thần không có rễ, nguyên thần hữu lực cũng khó sinh.
1. Lựa chọn sử dụng Dụng thần
Người học Dịch đều biết hào Quan quỷ đại biểu bệnh tật, phải chăng ý vị khi hỏi về bệnh tự thân, Quan quỷ là đối tượng phân tích chủ yếu cát hung thành bại? Kỳ thật có khác nhau, hỏi bệnh tự thân không giống với hỏi các việc liên quan đến tự thân khác, hỏi chuyện khác của bản thân thì thành bại phần lớn sẽ không nguy hiểm cho sinh mệnh, hào sự tình sẽ là trọng tâm phân tích mà địa vị của hào Thế thì lại phân tích phụ thêm. Nhưng vì bệnh tật và thân người cùng một nhịp thở, bệnh nặng không chế ước thường thường sẽ dẫn đến nguy hiểm cho tính mạng, cho nên hỏi bệnh tự thân thì cực kỳ xem trọng xu thế của hào Thế, trọng tâm phân tích vây quanh hào Thế, hào Thế mới là Dụng thần.
Vậy thì hào gì sẽ là bệnh và hào gì lại sẽ đại biểu y dược? Cái này tương đối phức tạp, cần hiểu rõ hào gì trì Thế và quan sát tình huống cụ thể trong quẻ mới có thể làm rõ được mọi thứ, không thể chủ quan phán định là nhất định hào Tử tôn sẽ là y dược và hào Quan quỷ là bệnh hoạn được. Đại khái tồn tại nhiều mô thức, khi gặp được quẻ tương quan thì lại luận phù hợp.
Quẻ này như vậy có thể minh xác hào Thế Phụ mẫu Hợi thủy làm Dụng thần. Phụ mẫu trì Thế, Quan quỷ ngược lại là nguyên thần sinh Thế, cho nên quẻ này Quan quỷ là dược chứ không phải là bệnh.
Trong quẻ hào Tử tôn Tị hỏa lâm Nguyệt khiến hào Thế bị phá, hai hào Thê tài Mùi thổ lâm Nhật động khắc Thế, bọn chúng liền thành ổ bệnh.
2. Phán đoán cát hung
Quẻ xuất hiện ba hào động, Mùi thổ Dậu kim minh động, Sửu thổ ám động, Dã Hạc trong quẻ này không có đề cập đến ám động, cái này phù hợp với phong cách của Dã Hạc là 'Thiên về nói vắn tắt', luận đoán quẻ lâu dài đã bồi dưỡng cho Dã Hạc một linh cảm rất nhạy cảm, có thể cấp tốc bắt lấy biểu hiện hạch tâm của quẻ, phía sau còn có rất nhiều quẻ ví dụ có thể chứng thực mạch suy nghĩ đặc thù này của Dã Hạc.
Bởi vì là bệnh đã lâu (tự hỏi bệnh được Phụ mẫu trì Thế, đa phần là tin tức có thể xác định được đây là bệnh trường kỳ tra tấn, nguyên lý là do hào Phụ mẫu khắc Tử tôn là thuốc, như quẻ này) cho nên lý luận của quẻ này có tác dụng trong thời gian rất dài, trong khi đó đặc thù của hào ám động là khuyết thiếu tính liên tục, thường thường chỉ có thể là dấu hiệu ngắn hạn, cho nên khi phán đoán cát hung, Dã Hạc càng coi trọng tác dụng của hào minh động.
Quẻ này Mùi thổ, Dậu kim minh động mà hữu lực, liên hoàn động sinh hào Thế, động tất có nguyên nhân, lúc đầu điềm lành hiển lộ rất rõ, nhưng dưới tác dụng đặc thù của Nhật Nguyệt lại thành điềm đại hung. Chính là vì hào Thế Hợi thủy bị Nguyệt phá lại bị Nhật khắc, hình thành tác dụng gộp giữa lực cao tầng và lực thông thường.
Theo hướng 'tổ hợp Nhật Nguyệt đặc thù', hào gặp Nguyệt phá là hung, lúc đầu chỉ là hung trong tháng, nhưng tác dụng của Nhật còn vượt qua tháng đó, nếu Nhật thần lại tới bỏ đá xuống giếng mà nói thì hai loại lực của Nhật Nguyệt hợp lại thành một, hung liền biến thành không bị hạn chế tác dụng trong thời gian hạn định, quẻ này Hợi thủy liền gặp vận rủi này.
Giống như Dã Hạc nói, hào Thế trị Nguyệt phá mà lại bị khắc nên như cây không có rễ, vĩnh viễn thành gỗ mục, dù là hào động đến sinh cũng uổng công, cho nên không cần xem cái gì khác, chỉ cần xem xét tổ hợp Nhật Nguyệt đặc thù Nguyệt phá Nhật khắc này thì điềm dữ đã định thành kết cục. Trầm tư một chút, có thể nghĩ đến một câu tổng luận trong 'Hoàng Kim Sách' là 'Nguyệt kiến chính là đề cương của vạn bốc, há có thể nối giáo cho giặc', mặc kệ ai trợ ai ngược, kết quả đều là đáng sợ.
3. Ứng kỳ chi tiết
Với tiền đề xác định là điềm dữ, tìm kiếm ứng kỳ sẽ tương đối dễ dàng, hào Thế sở dĩ không gặp thực hung là vì Dậu kim động sinh hào Thế nên sinh mệnh được duy trì, ngày Mão xung mất dưỡng Mệnh nguyên thần Dậu kim sẽ chính là ứng kỳ hung, đây là căn cứ vào phán đoán cát hung là điềm dữ tiền đề phân tích.
Vì nguyên tắc phân tích ứng kỳ phổ biến là 'Cát đoán ứng cát, hung đoán ứng hung'. Vậy vì sao biết họa tại trước mắt mà đoán trong vài ngày nữa sẽ có hung? Quẻ này Sửu thổ tại Ứng vị ám động khắc Thế, ám động nhanh ứng, là căn cứ trọng yếu để phán đoán sắp gặp họa.
4. Gợi ý
Quẻ này trọng yếu nhất chính là gợi ý cho chúng ta về công năng tác dụng của Nhật Nguyệt, quẻ hiển tượng cho một chuyện, hào động có tượng chỉ rõ xu thế phát triển của sự tình, mà Nhật Nguyệt chính là ảnh thu nhỏ của vị trí hoàn cảnh và hiện trạng của sự tình, tất cả những biểu hiện của quẻ và hào động này đều bị ảnh hưởng và vận động dưới tác dụng của Nhật Nguyệt, thành sự tại thiên, Nhật Nguyệt chính là cái 'Thiên' này, cái 'Thiên' này có khi có thể điều khiển chuyện cát hung một cách hoàn toàn độc lập, đương nhiên phần lớn thời gian là hào động điều khiển, nhưng dưới điều kiện đặc thù thì lại có thể là quẻ tượng điều khiển, cũng nói cho chúng ta biết vô luận bất kỳ quẻ tượng nào thì bản thân cũng không có bất kỳ biểu hiện cát hung gì, cát hung là dưới điều kiện hoàn cảnh Nhật Nguyệt không đồng nhất mới có thể hiển lộ, đây chính là Dịch lý thời thế tạo vật. Càng khiến chúng ta hiểu rõ được sự thông biến tùy sự mà biến của Dịch, trong tối tăm ngẫu nhiên tỏ rõ quỹ tích của xu thế, đây mới là dự đoán.
Audio (Tiếng Việt)
Audio (Mandarin)
Audio (Cantonese)