Tình huống pháp luật thương mại – Phần 1

justice-scale-and-gavel-globe-concept

Tình huống tham khảo 01: Hợp đồng giữa thương nhân và chủ thể không phải là thương nhân

Nguồn: Bản án số 95/2008/KT-PT ngày 02/05/2008 của Tòa Phúc thẩm TANDTC tại Hà Nội về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa

Tóm tắt bản án

Ngày 02/05/2008, tại trụ sở Tòa phúc thẩm TANDTC tại Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 09/2007/ TLPT-KT ngày 22/03/2007 về việc tranh chấp hợp đồng mua bán bị kháng cáo theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 885/2008/QĐPT ngày 11/04/2008 giữa nguyên đơn là Công ty điện tử công nghiệp có trụ sở tại Hà Nội và bị đơn là Trung tâm y tế huyện Thanh Trì (nay là Phòng y tế huyện Thanh Trì kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng) có trụ sở tại Hà Nội.

Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, qua việc hỏi công khai, nghe các luật sư và các đương sự trình bày và kết quả tranh luận tại phiên tòa; sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử xét thấy:

Sau khi trúng gói thầu cung cấp thiết bị y tế do bị đơn làm chủ đầu tư, ngày 06/12/2005 nguyên đơn ký Hợp đồng số 01/2005/HĐKT/ĐTCN-CNC-YTTT bán 5 (năm) loại trang thiết bị y tế cho bị đơn.

Nội dung chính của hợp đồng: hàng hóa mua bán gồm: 12 máy siêu âm Toshiba chính hiệu Nhật Bản, 12 máy nghe tim thai và một số thiết bị y tế khác; tổng giá trị hợp đồng: 4.116.000.000 đồng (đã gồm các loại thuế và chi phí), thời gian giao hàng chậm nhất là ngày 25/12/2005; phương thức thanh toán: sau khi ký hợp đồng bên mua tạm ứng 30% giá trị hợp đồng, trong 15 ngày sau khi hai bên ký biên bản nghiệm thu bàn giao thanh toán tiếp 67%; 3% còn lại thanh toán nốt khi hết thời hạn bảo hành. Kèm theo Hợp đồng có Phụ lục số 01 quy định cụ thể mã ký hiệu, chất lượng, xuất xứ và các tiêu chuẩn kỹ thuật của từng loại hàng phù hợp với hồ sơ thầu.

Ngày 10/01/2006 hai bên ký biên bản bổ sung hợp đồng, sửa lại thời hạn giao hàng: chậm nhất là ngày 08/03/2006.

Ngày 20/01/2006 bị đơn (bên mua) tạm ứng cho nguyên đơn (bên bán) 1.234.000.000 đồng (thiếu 800.000 đồng so với thỏa thuận trong hợp đồng).

Ngày 06/03/2006, nguyên đơn giao hàng, các loại thiết bị khác được bị đơn đồng ý nhận, không có tranh chấp, riêng 12 máy siêu âm và 12 máy nghe tim thai bị đơn không nhận.

Các máy siêu âm được nguyên đơn giao cùng các tài liệu đi kèm: giấy chứng nhận chất lượng hàng hóa và giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa do nhà sản xuất Toshiba cung cấp, xác nhận của Phòng Thương mại công nghiệp Tokyo chữ ký ở 2 giấy trên đúng là chữ ký của đại diện tập đoàn Toshiba, giấy chứng nhận xuất xứ, gia công do Phòng Thương mại công nghiệp Singapore - Trung Quốc cấp. Bị đơn cho rằng đây không phải là tài liệu có căn cứ pháp lý để xác định máy này có xuất xứ từ Nhật Bản cũng như xác định chất lượng máy có đúng theo thỏa thuận trong hợp đồng hay không nên từ chối nhận hàng. Hai bên thỏa thuận tạm thời gửi số máy này tại kho của bị đơn để hoàn tất thủ tục kiểm định chất lượng và xuất xứ máy.

Về số máy nghe tim thai: các máy được giao có cấu hình đúng như cấu hình nêu trong catalog do nhà sản xuất cung cấp, đúng theo hồ sơ mời thầu. Tuy nhiên bị đơn trình bày: sau khi đã phát hành hồ sơ mời thầu thì theo yêu cầu của Sở Y tế Hà Nội, bị đơn đã có văn bản bổ sung vào ngày 01/11/2005, yêu cầu máy nghe tim thai phải có thêm đầu dò tần số 2,5MHz. Việc bổ sung này đã được các nhà thầu, trong đó có nguyên đơn chấp nhận, Tuy đã có ý kiến giải thích bằng văn bản của Sở Y tế thành phố Hà Nội rằng “đầu dò” chính là “bộ biến năng” trong cấu hình chuẩn nhưng bị đơn vẫn cho rằng đây là hai chi tiết khác nhau và không đồng ý nhận hàng vì thiếu chi tiết đầu dò.

Ngày 01/09/2006, nguyên đơn đã khởi kiện bị đơn, cho rằng nguyên đơn đã thực hiện đúng hợp đồng, đề nghị buộc bị đơn phải nhận hàng để thanh quyết toán hợp đồng, phải chịu lãi với số tiền chậm trả và chịu bồi thường những thiệt hại đã gây ra cho nguyên đơn.

Bị đơn cũng có yêu cầu phản tố: đề nghị buộc nguyên đơn phải chịu phạt vi phạm nghĩa vụ giao hàng và phải thanh toán cho bị đơn chi phí thuê bảo vệ trong kho chứa 12 máy siêu âm.

justice-scale-and-gavel-natural-colorful-tone

Tại Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 124/2006/KDTM-ST ngày 28/12/2006, TAND thành phố Hà Nội quyết định xử:

I. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

1. Bị đơn phải tiến hành nhận 12 máy siêu âm đa năng đen trắng xách tay Toshiba hiệu Famio5-SSA-510A và 12 máy nghe tim thai Doppler FD390 với số serial đã được chỉ dẫn trong các giấy chứng nhận xuất xứ và chứng nhận chất lượng kèm theo.

2. Bị đơn tiếp tục thanh toán 67% trị giá hợp đồng là 2.757.720.000 đồng cho nguyên đơn theo quy định tại hợp đồng

II. Việc lắp đặt, chạy thử, nghiệm thu, bảo hành, các bên tiếp tục thực hiện như hợp đồng 01/2005/HĐKT/ĐTCN/CNC/YTTT.

Đối với các điều chỉnh khác của hợp đồng số 01/2005/HĐKT /ĐTCN/CNC/YTTT, các bên tiếp tục thực hiện như đã thỏa thuận. Nếu có tranh chấp và có yêu cầu khởi kiện, các bên sẽ giải quyết ở vụ kiện khác.

III. Chấp nhận yêu cầu đòi tiền phạt của nguyên đơn đối với bị đơn. Bị đơn phải chịu phạt 220.624.000 đồng.

Xét kháng cáo của nguyên đơn và bị đơn, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy như sau:

Theo hồ sơ vụ án và theo xác nhận của nguyên đơn và bị đơn thì sau khi ký hợp đồng nêu trên, bị đơn đã thanh toán cho nguyên đơn số tiền là 1.234.000.000 đồng. Theo Điều 1 của hợp đồng thì 30% của tổng giá trị hợp đồng là 1.234.800.000 đồng. Như vậy so với thỏa thuận thì bị đơn tạm ứng còn thiếu 800.000 đồng. Cũng theo Điều 1 của hợp đồng nêu trên thì 67% của tổng giá trị hợp đồng là 2.757.720.000 đồng. Tòa án cấp sơ thẩm khi buộc bị đơn phải tiếp tục thanh toán 67% là chưa tính việc bị đơn còn thanh toán thiếu 800.000 đồng của phần tạm ứng 30%. Do đó, cần buộc bị đơn phải thanh toán đủ 67% trên tổng giá trị của hợp đồng, theo đó số tiền còn thiếu 800.000 đồng được tính cho khoản 67% và bằng 2.758.520.000 đồng. Do vậy, kháng cáo của nguyên đơn về nội dung này được chấp nhận.

Xét thấy theo các điều khoản của hợp đồng số 01 và biên bản bổ sung hợp đồng ngày 10/01/2006, cả hai bên không thỏa thuận về việc hủy hợp đồng mà chỉ xác định nếu vi phạm về thời hạn giao hàng, về việc tiếp nhận hàng hay vi phạm nghĩa vụ thanh toán thì các bên liên quan đến phần nghĩa vụ của mình sẽ chịu phạt và bồi thường thiệt hại (nếu có). Trong quá trình thực hiện hợp đồng, có 3/5 loại thiết bị được hai bên giao nhận và không có tranh chấp, đó là bộ dụng cụ xét nghiệm thực phẩm là 12 bộ, máy xét nghiệm nước tiểu Combilyzer Plug là 12 cái và 12 kính hiển vi 2 mắt EZ-232. Mặt khác, khi giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm chỉ xét nội dung tranh chấp về hai loại máy là máy siêu âm chuẩn đoán đa năng đen trắng xách tay Famio5-SSA-510A và máy nghe tim thai Doppler FD-390. Vì các lý do trên và theo nguyên tắc hai bên phải tiếp tục thực hiện hợp đồng nên việc quyết định như trên của Tòa án cấp sơ thẩm là phù hợp và cần thiết. Vì vậy, không chấp nhận nội dung kháng cáo này của nguyên đơn.

Tại đơn kháng cáo và lời trình bày tại phiên tòa, nguyên đơn cho rằng số tiền phạt vi phạm hợp đồng phải là 228.918.400 đồng. Xét theo thỏa thuận tại Điều 2.4 biên bản bổ sung hợp đồng kinh tế và Điều 301 Luật thương mại 2005 thì mức phạt 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm mà Tòa án cấp sơ thẩm xác định là đúng. Tuy nhiên, từ kết quả thực hiện hợp đồng và biên bản bổ sung ngày 10/01/2006 giữa hai bên thì thấy: theo Điều 1 của hợp đồng, giá trị của 3/5 loại thiết bị đã thực hiện, không có tranh chấp là 684.000.000 đồng, từ đó phát sinh 3% tiền bảo hành thiết bị và bằng 20.520.000 đồng, phù hợp với thời hạn bảo hành là 12 tháng kể từ khi bàn giao thiết bị theo Điều 1 của hợp đồng số 01. Tòa án cấp sơ thẩm trừ đi 3% tiền bảo hành theo tổng giá trị của hợp đồng số 01 và bằng 123.480.000 đồng là không đúng vì kể từ thời điểm xét xử phúc thẩm (ngày 02/05/2008) bị đơn mới có nghĩa vụ nghiệm thu, tiếp nhận 12 máy siêu âm chuẩn đoán đa năng đen trắng xách tay Famio5-SSA-510A và 12 máy nghe tim thai Doppler FD-390, và như vậy thì thời hạn bảo hành tối thiểu là 12 tháng kể từ ngày nghiệm thu, giao nhận máy. Do đó, số tiền bảo hành mà bị đơn phải trả cho nguyên đơn là 20.520.000 đồng và khoản tiền phạt bị đơn phải chịu được tính trên 2.861.480.000 đồng (được tính từ: 4.116.000.000 đồng - 1.234.000.000 đồng - 20.520.000 đồng) với mức phạt 8% và bằng 228.918.400 đồng. Kháng cáo của nguyên đơn về nội dung này được chấp nhận.

Xét thấy tại Điều 1 của hợp đồng số 01 và phụ lục số 01 kèm theo, hai bên đã thỏa thuận máy trên theo cấu hình tiêu chuẩn với đặc điểm cơ bản của máy là: ký mã hiệu Famio5-SSA-510A do nhà sản xuất, nước sản xuất là Toshiba Nhật Bản. Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn thừa nhận ngày 08/03/2006 nguyên đơn đã giao 12 máy có đặc điểm trên, đã nhập kho nhưng do chưa thừa nhận các giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa này nên không nghiệm thu và nhận máy.

Tại Điều 1 hợp đồng số 01 và tại điểm A.II.3 trong phần IC hồ sơ mời thầu, chính bị đơn đưa ra yêu cầu “các thiết bị dự thầu phải được sản xuất tại chính quốc, do các hãng uy tín trên thế giới sản xuất, có chứng chỉ xuất xứ của chính hãng”. Như vậy, ngay từ khi lập hồ sơ mời thầu cho đến khi ký kết hợp đồng số 01, bị đơn chỉ có yêu cầu được cung cấp chứng chỉ xuất xứ và chứng chỉ chất lượng của chính hãng sản xuất chứ không yêu cầu cơ quan, tổ chức của nước xuất khẩu hàng hóa của Nhật Bản cấp giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa (cấp C/O). Vì thế, yêu cầu của bị đơn về việc phải có giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa của Phòng Thương mại và công nghiệp Nhật Bản để từ đó mới nghiệm thu, nhận máy là không thỏa đáng. Mặt khác, đối chiếu giữa đối tượng hợp đồng với quy định tại Điểm 2 mục III Thông tư liên tịch số 09/2000/TTLT-BTM-TCHQ ngày 17/04/2000 của Bộ Thương mại và Tổng cục hải quan hướng dẫn về việc xác định và kiểm tra xuất xứ hàng hóa thì đây là trường hợp không phải nộp C/O.

Hơn nữa tại điểm 4.C mục III của Thông tư trên thì “trong trường hợp C/O do nhà sản xuất cấp thì phải có xác nhận của cơ quan hoặc tổ chức có thẩm quyền của nước cấp có liên quan”. Theo yêu cầu của bị đơn trong hợp đồng số 01 và trong hồ sơ thầu được duyệt thì việc Tập đoàn thiết bị y tế Toshiba cấp Giấy chứng nhận xuất xứ số A.031026 và Giấy chứng nhận số lượng chất lượng số A.031027 là phù hợp. Việc Phòng Thương mại và công nghiệp Tokyo Nhật Bản có xác nhận chữ ký của những người đại diện cho tập đoàn (đã được đăng ký tại Nhật Bản) là một đảm bảo nhằm khẳng định máy siêu âm trên được sản xuất và lắp ráp tại Nhật Bản. Do có khiếu nại, thắc mắc của bị đơn về việc chưa làm rõ xuất xứ của nước sản xuất thì Tập đoàn trên cũng như Phòng Thương mại và công nghiệp Tokyo Nhật Bản đã có nhiều Giấy chứng nhận liên quan đến xuất xứ sản xuất máy siêu âm, kèm theo là chứng nhận của công chứng viên và hợp pháp hóa lãnh sự.

Tại phiên tòa này, bị đơn cho rằng việc xác nhận chữ ký của Phòng Thương mại và công nghiệp Tokyo Nhật Bản là chưa đủ căn cứ pháp lý. Xét nội dung này, thấy theo quy định tại khoản 2 Điều 17 Nghị định số 19/2006/NĐ-CP ngày 20/02/2006 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Thương mại về xuất xứ hàng hóa và điểm 4.C mục III Thông tư liên tịch số 09 nêu trên thì thấy cơ quan cấp C/O thường là Phòng Thương mại và công nghiệp nước sở tại.
Theo văn bản số 2524/PTM-PC ngày 30/08/2006 của Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam (thuộc Hiệp hội các Phòng Thương mại và công nghiệp) đã trả lời đề nghị của nguyên đơn, bị đơn với nội dung: “Việc nhà sản xuất Toshiba... xác nhận hệ thống chuẩn đoán máy siêu âm Toshiba có xuất xứ tại Nhật Bản và được Phòng Thương mại và công nghiệp Tokyo xác nhận chữ ký là có căn cứ để xác định Toshiba sản xuất và lắp ráp sản phẩm này”. Cũng theo văn bản trên thì theo pháp luật của Nhật Bản, việc cấp C/O do các Phòng Thương mại và công nghiệp địa phương thực hiện.

Phòng Thương mại và công nghiệp địa phương ở Nhật Bản ngoài chức năng trên còn có thẩm quyền xác nhận các chứng từ thương mại khác và giấy chứng nhận xuất xứ, giấy chứng nhận chất lượng số lượng do Tập đoàn thiết bị y tế Toshiba cấp chính là loại chứng từ thương mại.
Từ những phân tích trên, có đầy đủ cơ sở để xác định máy siêu âm chuẩn đoán đa năng đen trắng Famio5-SSA-510A là do nhà sản xuất Toshiba sản xuất và lắp ráp tại Nhật Bản (tại chính quốc).

Về giấy chứng nhận xuất xứ số 11996 ngày 03/04/2006 do Phòng Thương mại và công nghiệp Singapore - Trung Quốc cấp đã thể hiện đúng ký mã hiệu 12 máy siêu âm đã được nêu tại Giấy chứng nhận số A.031026 và số A.031027 của Tập đoàn thiết bị y tế Toshiba, đồng thời xác nhận tại mục 7 rằng nước sản xuất là Nhật Bản. Bị đơn cho rằng giấy này không có dấu “cấp sau” và được cấp quá chậm trong khi ngày 22/02/2006 hàng hóa đã được xếp lên phương tiện vận chuyển. Xét nội dung này thấy nếu theo đúng hợp đồng số 01 và hồ sơ thầu thì chỉ cần có giấy chứng nhận của hãng sản xuất là đủ.

Việc xác nhận của Phòng Thương mại và công nghiệp Singapore - Trung Quốc là phù hợp với trả lời của Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam. Mặt khác sở dĩ Phòng Thương mại và công nghiệp Singapore - Trung Quốc cấp giấy trên là do chính yêu cầu của bị đơn. Ngay sau khi hàng nhập kho của bị đơn, nguyên đơn đã có văn bản gởi Văn phòng đại diện Công ty GoLo tại Hà Nội với nội dung phản ánh trung thực ý kiến thắc mắc của bị đơn. Để ra được giấy này, Phòng Thương mại và công nghiệp đã phải điều tra, xác minh hồ sơ tạm nhập, tái xuất, vì vậy ngày 13/04/2006 mới cấp.

Cũng theo Văn bản số 2524 nêu trên, Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam đã khẳng định Phòng Thương mại và công nghiệp Singapore - Trung Quốc cũng có thẩm quyền cấp C/O và theo pháp luật của Singapore thì C/O được cấp sau là 3 tuần. Việc Phòng Thương mại và công nghiệp trên cấp C/O vẫn nằm trong thời hạn 3 tháng kể từ ngày hàng lên tàu. Với lập luận trên, không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu này của bị đơn.

Về chất lượng của máy, bị đơn có nghi ngờ đối với Giấy chứng nhận số A.031027. Xét yêu cầu này của bị đơn, thấy tại Điều 1 của hợp đồng số 01 và hồ sơ thầu (tiểu mục A.II.3 phần 1.c) xác định nguyên đơn phải giao “chứng chỉ xuất xứ của hãng” và “thiết bị phải đảm bảo mới 100%”. Tại Điều 3.b.3 của hồ sơn thầu ghi: “… cung cấp chứng chỉ chất lượng hàng hóa cho bên A”. Đối chiếu nội dung Giấy chứng nhận số A.031027 của Tập đoàn thiết bị y tế Toshiba cấp, có xác nhận của Phòng Thương mại và công nghiệp Tokyo Nhật Bản, có đủ căn cứ xác định giấy này thỏa mãn những điều kiện đã dẫn ở trên của hồ sơ thầu.

Tại phiên tòa, bị đơn cho rằng kết quả giám định của Vinacontrol Hà Nội ngày 14/04/2006 là không khách quan. Xét yêu cầu này thấy tại biên bản làm việc giữa hai bên vào ngày 08/3/2006, chính bị đơn xác nhận sẽ đứng ra trưng cầu giám định chất lượng máy và cam kết chịu chi phí giám định. Tuy nhiên do bị đơn đã không thực hiện được nội dung như đã thỏa thuận nên nguyên đơn đã mời tổ chức giám định trên giám định và có anh Lê Anh Tuấn cán bộ của bị đơn chứng kiến.

Theo Giấy chứng nhận giám định số 0288/V.GĐ1/2006 A ngày 14/04/2006 của Vinacontrol Hà Nội thì tình trạng của máy là mới 100%, có tình trạng bình thường, xuất xứ được sản xuất ở Nhật Bản. Theo quá trình giám định và kết quả giám định, không có căn cứ để cho rằng cơ quan giám định trên đã không vô tư, khách quan. Song Hội đồng xét xử thấy tài liệu này dùng để tham khảo.

Về việc không đồng ý nhận 12 máy nghe tim thai Doppler FD-390 của nhà sản xuất TOITU Nhật Bản với lý do cho rằng khi giao nhận đã thiếu 01 đầu dò, không phù hợp với hợp đồng đã ký và hồ sơ thầu được duyệt. Căn cứ vào hồ sơ vụ án, trước tiên cần khẳng định khi mua máy, hai bên đã thỏa thuận là cấu hình tiêu chuẩn. Trong hợp đồng, phụ lục không thể hiện thỏa thuận về cấu hình quy định.

Trong quá trình lập hồ sơ mời thầu, bị đơn đã có catalog gốc của nhà sản xuất TOITU Nhật Bản. Nếu theo catalog này thì không có đầu dò tần số 2,5MHz. Để ký hợp đồng và tổ chức mời thầu, chính bị đơn đã tham khảo ý kiến của Cơ quan chủ quản là Sở Y tế Hà Nội. Theo trả lời hướng dẫn của Sở, bị đơn đã bổ sung thêm 1 đầu dò tần số 2,5MHz, và sau khi trúng thầu với nội dung bổ sung trên, nguyên đơn đã ký hợp đồng số 01 với bị đơn vào ngày 06/12/2005. Với tư cách là bên nhập khẩu, nguyên đơn đã ký đơn vị hợp đồng mua bán ngoại thương với hãng NIPON, nhà phân phối độc quyền của Tập đoàn thiết bị y tế Toshiba. Ngày 16/02/2006, hãng NIPON xác nhận máy chính kèm theo 1 đầu dò tần số 2,5MHz nhưng khi nguyên đơn nhập hàng, chuẩn bị giao hàng cho bị đơn thì ngày 06/03/2006, hãng trên đính chính do lỗi đánh máy nên không có bộ biến năng mà đó chính là đầu dò tần số 2,5MHz, theo đó nguyên đơn có văn bản đính chính về nội dung này đối với bị đơn.

Với những diễn biến như trên, không có cơ sở để khẳng định nguyên đơn đã có hành vi lừa dối để được trúng thầu. Việc bị đơn cho rằng đầu dò và bộ biến năng là 2 chi tiết khác nhau là trái với chỉ dẫn đã ghi trong catalog gốc của hãng TOITU Nhật Bản bởi như trên đã nêu bị đơn đã biết catalog gốc chỉ có như vậy.

Ngoài ra, để giải quyết những thắc mắc này của bị đơn, Sở Y tế thành phố Hà Nội (cơ quan chuyên ngành cấp trên của bị đơn), Bệnh viện Phụ sản Hà Nội cũng như Vụ Trang thiết bị và công trình y tế (Bộ Y tế) đã có trả lời, theo đó khẳng định máy nghe tim thai hiệu như trên không có bộ biến năng, đầu dò chính là bộ biến năng, kèm theo giá đỡ đầu dò. Với phân tích trên, có đủ căn cứ để khẳng định nguyên đơn đã giao đúng loại hàng hóa, phù hợp với catalog gốc của nhà sản xuất TOITU Nhật Bản.

Tổng hợp lại, cần buộc bị đơn phải tổ chức nghiệm thu, tiếp nhận hai loại máy nêu trên, theo đó bị đơn phải tiếp tục thanh toán 67% trên tổng giá trị hợp đồng như thỏa thuận trong hợp đồng. Đồng thời được giữ lại số tiền bảo hành 3% trên giá trị của hai máy, hết thời hạn bảo hành 12 tháng kể từ ngày giao nhận, số tiền này sẽ được giải quyết theo nội dung của hợp đồng số 01.

Về việc đề nghị hủy kết quả đấu thầu và tuyên bố hợp đồng số 01 bị vô hiệu toàn bộ, thì thấy như trên đã phân tích, nguyên đơn tham gia dự thầu và trúng thầu theo phê duyệt của Chủ quản đầu tư là Ủy ban nhân dân huyện Thanh Trì. Do vậy không có căn cứ để hủy kết quả đấu thầu. Mặt khác, hợp đồng số 01 được ký bởi đại diện có thẩm quyền của hai pháp nhân, nhằm mục đích kinh doanh, đối tượng của hợp đồng không thuộc hàng hóa cấm mua bán lưu thông. Bởi vậy không có căn cứ để xác định hợp đồng số 01 bị vô hiệu.

Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 02/05/2008, bị đơn bổ sung 3 khoản bồi thường về thuê Công ty tư vấn 4.116.000 đồng; tiền thuê bảo vệ kho 21.755.000 đồng, thuê văn phòng và trả thù lao cho luật sư 38.500.000 đồng. Xét nội dung bổ sung trên là không có căn cứ vì bị đơn có yêu cầu phản tố nên phí thuê tư vấn và luật sự bị đơn phải tự chịu. Về tiền thuê kho, nguyên đơn trước đó có yêu cầu được nhận lại, giao lại máy khác nhưng bị đơn không chấp nhận nên bị đơn phải tự chịu phí bảo vệ thuê kho này.

Về yêu cầu buộc nguyên đơn phải chịu phạt và bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng, thấy rằng chính bị đơn là bên vị phạm hợp đồng về nghiệm thu nhận máy, theo đó vi phạm nghĩa vụ thanh toán 67% trên tổng giá trị hợp đồng và 3% tiền bảo hành đối với 3 thiết bị đã nhận, còn nguyên đơn không vi phạm về thời gian giao hàng, ngược lại khi bị đơn không nhận hàng thì nguyên đơn đã có nhiều văn bản gửi cơ quan, tổ chức liên quan nhằm xác định và giải quyết thắc mắc của bị đơn. Nguyên đơn còn chủ động đề nghị nhận lại máy và chấp nhận giao máy khác cùng chủng loại nhưng không được bị đơn đồng ý. Vì thế, không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu này của bị đơn.

Vì các lẽ trên và căn cứ vào khoản 2 Điều 275 Bộ luật tố tụng dân sự, (Tòa án) quyết định:

Tuyên xử:

Không chấp nhận nội dung đơn kháng cáo của Phòng y tế huyện Thanh Trì. Chấp nhận một phần nội dung đơn kháng cáo của Công ty điện tử công nghiệp. Sửa một phần quyết định của bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm như sau:

Áp dụng các Điều 33, 301, 303 Luật thương mại; Nghị định số 19 ngày 20/02/2006 của Chính phủ; Thông tư liên tịch số 09 ngày 17/04/2000 của Bộ Thương mại và Tổng cục Hải quan; Thông tư liên tịch số 01 ngày 17/06/1997 của Tòa án nhân dân tối cao - Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tài chính; Nghị định 70/CP ngày 12/06/1997 của Chính phủ, buộc:

1. Phòng y tế huyện Thanh Trì phải tiến hành nhận 12 máy siêu âm đa năng đen trắng xách tay Toshiba hiệu Famio5-SSA-510A và 12 máy nghe tim thai Doppler FD-390 với số serial đã được chỉ dẫn trong các giấy chứng nhận xuất xứ và chứng nhận chất lượng kèm theo.

Phòng y tế huyện Thanh Trì tiếp tục thanh toán 67% giá trị hợp đồng là 2.758.520.000 đồng cho Công ty điện từ nghiệp theo quy định tại hợp đồng.

2. Việc lắp đặt, chạy thử, nghiệm thu, bảo hành, các bên tiếp tục thực hiện như hợp đồng số 01 ngày 06/12/2005. Đối với các điều khoản khác của hợp đồng số 01/2005/HĐKT/ĐTCN-CNC-YTTT, các bên tiếp tục thực hiện như đã thỏa thuận. Nếu có tranh chấp và có yêu cầu khởi kiện, các bên sẽ giải quyết ở vụ kiện khác.

3. Chấp nhận yêu cầu đòi tiền phạt của Công ty điện tử công nghiệp đối với Phòng y tế huyện Thanh Trì, Phòng y tế huyện Thanh Trì phải chịu phạt 228.918.400 đồng.

Các vấn đề pháp lý đặt ra

1. Sự việc được xác định trong vụ án này cho thấy, tranh chấp giữa hai bên phát sinh từ hợp đồng được giao kết ngày 06/12/2005, trong đó thời hạn giao hàng được thỏa thuận là “chậm nhất là ngày 25/12/2005”, đều trong thời gian Pháp lệnh hợp đồng kinh tế 1989 và Luật thương mại 2005 còn hiệu lực. Ngày 10/01/2006 hai bên ký biên bản bổ sung hợp đồng, sửa lại thời hạn giao hàng chậm nhất là ngày 08/03/2006”. Vậy, xét ở góc độ thời gian thì luật nào phải được áp dụng để giải quyết tranh chấp này?

2. Sự việc được xác định trong vụ án này cũng còn cho thấy, một bên của hợp đồng là Công ty điện tử công nghiệp và là thương nhân, còn bên kia là Trung tâm y tế huyện Thanh Trì (nay là Phòng y tế huyện Thanh Trì kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng) và dù theo quy định của Luật thương mại 1997 hay Luật thương mại 2005 đều không phải là thương nhân. Tòa án cấp phúc thẩm xác định, hợp đồng phát sinh tranh chấp trong vụ án này được “ký bởi đại diện có thẩm quyền của hai pháp nhân, mang mục đích kinh doanh” và vì vậy mặc dù không dẫn chiếu đến Pháp lệnh hợp đồng kinh tế 1989 nhưng qua đó gián tiếp thể hiện đây là loại hợp đồng kinh tế theo Pháp lệnh này. Nhưng khi Pháp lệnh hợp đồng kinh tế 1989 hết hiệu lực và sau đó các bên sửa đổi, bổ sung và thực hiện thì đây là hợp đồng “mua bán tài sản” chỉ chịu sự điều chỉnh của Bộ luật dân sự hay là “hợp đồng mua bán hàng hóa” chịu sự điều chỉnh của Luật thương mại và Bộ luật dân sự chỉ áp dụng đối với những vấn đề pháp lý liên quan mà Luật thương mại không điều chỉnh?

Việc Tòa án thụ lý “vụ án tranh chấp kinh doanh, thương mại” có đồng nghĩa với việc phải áp dụng Luật thương mại để giải quyết tranh chấp hoặc ngược lại, nếu Luật thương mại phải được áp dụng thì Tòa án có phải thụ lý vụ án này là “vụ án tranh chấp kinh doanh, thương mại” hay không? Vấn đề này là quan trọng, bởi việc áp dụng luật khác nhau có thể dẫn đến kết quả giải quyết tranh chấp khác nhau.

Phân tích & bình luận

1. Việc xác định văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng để giải quyết tranh chấp, như đã đề cập ở tình huống tham khảo 01 của Chương này, là việc của Tòa án, theo nguyên tắc ex officio. Việc này phải được thể hiện một cách minh thị. Trong vụ án, điều đó cũng là cần thiết, bởi vì hợp đồng được ký kết ngày 06/12/2005, thời hạn giao hàng theo thỏa thuận chậm nhất ngày 25/12/2005, nghĩa là trong thời gian Pháp lệnh hợp đồng kinh tế 1989 và Luật thương mại 1997 còn hiệu lực; nhưng sau đó, ngày 10/01/2006 hai bên ký biên bản bổ sung hợp đồng, sửa lại thời hạn giao hàng chậm nhất là ngày 08/03/2006.

Thực tế, Tòa án cấp phúc thẩm đã không xem đây như là một vấn đề cần phải làm rõ, mà chỉ thể hiện quan điểm áp dụng pháp luật của mình thông qua việc căn cứ các quy định liên quan của Luật thương mại 2005 và Bộ luật dân sự 2005 để giải quyết các yêu cầu của hai bên. Xét ở góc độ luật áp dụng, thì điều đó là phù hợp với quy định tại điểm 1 và 2 a) Nghị quyết số 45/2006/QH11 về thi hành Bộ luật dân sự, theo đó Pháp lệnh hợp đồng kinh tế 1989 hết hiệu lực từ ngày Bộ luật dân sự 2005 có hiệu lực và giao dịch dân sự được xác lập trước ngày Bộ luật dân sự 2005 có hiệu lực và đang được thực hiện mà có nội dung và hình thức phù hợp với quy định của Bộ luật dân sự 2005 thì áp dụng quy định của Bộ luật này. Bởi vì, ngay cả theo hợp đồng “gốc” ký ngày 06/12/2005 thì việc thực hiện hợp đồng cũng phải kéo dài sang cả năm 2006, thậm chí có thể cả năm 2007 đối với nghĩa vụ bảo hành của nguyên đơn (bên bán) và thanh toán 30% giá trị hợp đồng là tiền bảo hành mà bị đơn (bên mua) giữ lại.

Chưa kể, việc các bên ký biên bản bổ sung ngày 10/01/2006 không chỉ có giá trị pháp lý đối với những nội dung được bổ sung, sửa đổi mà cũng còn có ý nghĩa xác nhận giá trị pháp lý các thỏa thuận không bị sửa đổi. Mặt khác, các hành vi thực hiện nghĩa vụ hợp đồng, kể cả việc tạm ứng 30% giá trị hợp đồng cũng đều diễn ra trong năm 2006. Luật thương mại 2005 cũng đã có hiệu lực từ 01/01/2006 và thay thế Luật thương mại 1997.

Bản thân Luật thương mại 2005 không có quy định chuyển tiếp, cũng không có nghị quyết của Quốc hội về việc thi hành Luật này, bởi vậy Luật thương mại 2005 cũng chỉ được áp dụng đối với giao dịch thương mại được xác lập từ thời điểm Luật này có hiệu lực. Trong vụ án, Tòa án có thể xem việc hai bên ký biên bản bổ sung ngày 10/01/2006 như việc “làm mới” hợp đồng ký ngày 06/12/2005 để áp dụng quy định của Luật thương mại 2005. Như vậy, xét ở góc độ thời gian thì việc Tòa án các cấp áp dụng các luật có hiệu lực từ 01/01/2006 là phù hợp với các nguyên tắc áp dụng pháp luật.

2. Trong quan hệ hợp đồng phát sinh tranh chấp này, bên bán (Công ty điện tử công nghiệp) và bên mua (Trung tâm y tế huyện Thanh Trì) đều là pháp nhân và vì vậy đều có thể là các bên của hợp đồng kinh tế theo Pháp lệnh hợp đồng kinh tế. Tuy nhiên, theo Pháp lệnh này thì “hợp đồng kinh tế là sự thỏa thuận bằng văn bản, tài liệu giao dịch giữa các bên ký kết về việc thực hiện công việc sản xuất, trao đổi hàng hóa, dịch vụ, nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật và các thoả thuận khác có mục đích kinh doanh với sự quy định rõ ràng quyền và nghĩa vụ của mỗi bên để xây dựng và thực hiện kế hoạch của mình”. Như vậy, để một hợp đồng giữa hai pháp nhân được xem là hợp đồng kinh tế theo Pháp lệnh này, thì thỏa thuận giữa các bên phải có mục đích kinh doanh”.

Vậy, nhìn từ góc độ của bên mua thì việc đặt mua các thiết bị y tế này có nhằm mục đích kinh doanh hay không. Với việc thụ lý vụ án này là vụ án kinh doanh, thương mại theo quy định về thẩm quyền vụ việc của Tòa án theo Bộ luật tố tụng dân sự 2004 cũng như nhận định trong bản án, theo đó hợp đồng phát sinh tranh chấp này được “ký bởi đại diện có thẩm quyền của hai pháp nhân mang mục đích kinh doanh”.

Nhận định như vậy là khiên cưỡng khi chưa làm rõ mục đích cụ thể của bên mua khi đặt mua các thiết bị y tế này, đó là nhằm phục vụ cho việc khám chữa bệnh của bên mua trong phạm vi chức năng là một đơn vị cung cấp dịch vụ công hay nhằm thực hiện việc khám chữa bệnh theo nhu cầu xã hội và thu phí theo mức dịch vụ thị trường mà bên mua được làm theo quy định pháp luật và được cơ quan chủ quản cho phép.

Việc xác định tư cách chủ thể và mục đích của các bên khi giao kết hợp đồng phát sinh tranh chấp này càng có ý nghĩa quan trọng đối với việc áp dụng pháp luật, khi Tòa án các cấp trong vụ án này áp dụng các luật có hiệu lực từ 01/01/2006 để giải quyết tranh chấp.

Đặc biệt, chiếu theo Luật thương mại 2005 thì đây là trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 1 Luật này, là trường hợp một bên “hoạt động không nhằm mục đích sinh lợi” giao dịch với thương nhân. Theo luật này, thương nhân là chủ thể hoạt động thương mại và “hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi”. Bên mua (Trung tâm y tế huyện Thanh Trì) không phải là thương nhân, nên là bên “hoạt động không nhằm mục đích sinh lợi” theo ý nghĩa của quy định này.

Trong trường hợp này, Luật thương mại 2005 không mặc nhiên, mà chỉ được áp dụng “trong trường hợp bên thực hiện hoạt động không nhằm mục đích sinh lợi chọn áp dụng Luật này”. Bởi vậy, trong vụ án này nhẽ ra Tòa án các cấp phải xác định bên mua có chọn áp dụng Luật thương mại 2005 hay không và thể hiện điều đó một cách minh thị trong bản án.

Việc Tòa án các cấp thụ lý vụ án này là vụ án kinh doanh, thương mại là theo quy định về thẩm quyền vụ việc của Tòa án theo pháp luật tố tụng, không đồng nghĩa với việc phải áp dụng Luật thương mại 2005 để giải quyết tranh chấp.

Việc Tòa án thụ lý một vụ án là vụ án kinh doanh, thương mại thay vì vụ án dân sự hay ngược lại chỉ có thể là vi phạm quy định về thẩm quyền và không nhất thiết là căn cứ để hủy bản án. Điều đó đã được Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao chỉ rõ trong Quyết định giám đốc thẩm số 05/2004/HĐTP-DS ngày 25/03/2004 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc tranh chấp hợp đồng mua bán phân urê. Theo đó, khi nhìn nhận vụ án này nhẽ ra phải được thụ lý là vụ án kinh tế (nay là vụ án kinh doanh, thương mại) thay vì thụ lý là vụ án dân sự, Hội đồng thẩm phán không xem đây là căn cứ để hủy bản án sơ thẩm và phúc thẩm mà chỉ yêu cầu “khi điều tra, xét xử sơ thẩm lại vụ án, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cũng cần phải xem xét làm rõ thêm về thẩm quyền giải quyết theo thủ tục giải quyết các vụ án dân sự hay thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế theo đúng quy định của pháp luật”.

Việc áp dụng quy định của Luật thương mại 2005 hay của Bộ luật dân sự 2005 để giải quyết yêu cầu phạt vi phạm trong vụ án này là đặc biệt quan trọng, bởi vì việc áp dụng quy định liên quan của hai luật này có thể dẫn đến kết quả khác nhau. Trong hợp đồng phát sinh tranh chấp, hai bên chỉ thỏa thuận (như bản án nêu): “nếu vi phạm về thời hạn giao hàng, về việc tiếp nhận hàng hay vi phạm nghĩa vụ thanh toán thì các bên liên quan đến phần nghĩa vụ của mình sẽ chịu phạt và bồi thường thiệt hại (nếu có)”.

Nếu áp dụng quy định của Bộ luật dân sự 2005, thỏa thuận như vậy có thể rơi vào trường hợp không thực hiện được, do các bên không thỏa thuận mức phạt cụ thể trong khi khoản 2 Điều 422 Bộ luật dân sự 2005 không giới hạn mức phạt thỏa thuận. Trong trường hợp này, Tòa án không thể xác định được số tiền phạt vi phạm và vì vậy không thể chấp nhận yêu cầu phạt vi phạm của nguyên đơn. Ngày nay, nếu áp dụng quy định của Bộ luật dân sự 2015 (khoản 2 Điều 418) thì kết quả cũng tương tự.

Trái lại, nếu áp dụng quy định của Luật thương mại 2005, trường hợp các bên không thỏa thuận mức phạt vi phạm cụ thể, Tòa án có thể chấp nhận mức trần phạt vi phạm là 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm (như trong bản án này).

Phiên bản video

You may also like...

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *