Câu hỏi pháp luật đất đai – Phần 2
Các câu hỏi thường gặp trong pháp luật đất đai
Câu hỏi 5: căn cứ quy đổi diện tích căn hộ ra diện tích đất sử dụng?
Tôi mua một căn hộ chung cư ở P.M.H năm 2005, lúc đó tiền sử dụng đất ước tính chỉ 30.000 đồng/m2. Gần đây, tôi nhận được văn bản của Chi cục thuế quận 7 thông báo số tiền sử dụng đất tôi phải đóng lên tới khoảng 15 triệu đồng/m2. Căn hộ của tôi rộng 81 m2, được tính là 25 m2 đất (theo trả lời của nhân viên Công ty P.M.H)

Xin hỏi, dựa trên cơ sở nào để tính 81 m2 căn hộ chung cư thành 25 m2 đất? Tôi nêu thắc mắc này với Phòng hỗ trợ khách hàng của P.M.H nhưng không có câu trả lời cụ thể về cơ sở pháp lý của cách tính toán này. Giấy báo của Chi cục thuế chỉ ghi số tiền tổng cộng, không ghi diện tích đất sử dụng cũng như cách tính toán. Mặt khác, giá đất để làm căn cứ tính tiền sử dụng đất là đất mặt tiền đường Nguyễn Văn Linh, trong khi đối với hộ tầng 8 như tôi thì “mặt tiền” không có ý nghĩa kinh tế gì cả. Như vậy, cách tính trên có hợp lý?
Theo quy định, diện tích 25 m2 đất mà bà phải đóng tiền sử dụng đất phải được thể hiện trong hợp đồng. Theo đó, nếu bà đóng tiền sử dụng đất đối với phần diện tích này thì bà sẽ được cấp một giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở (đối với 81 m2) và quyền sử dụng đất ở (đối với 25 m2 đất) theo Điều 11 Luật Nhà ở 2005.
Hiện tại, không có quy định cho phép quy đổi diện tích căn hộ thành diện tích đất. Do đó, nếu hợp đồng mua căn hộ mà bà đã ký với công ty không thể hiện phần diện tích 25 m2 nêu trên thì bà có thể yêu cầu công ty làm rõ về diện tích này.
Trường hợp công ty không làm rõ phần diện tích 25 m2 đất, hay không bảo đảm, cam kết rằng bà sẽ được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở đối với căn hộ nêu trên, cũng như không chịu thỏa thuận với bà trách nhiệm nộp khoản tiền sử dụng đất chênh lệch do lỗi nộp chậm hồ sơ của công ty (nếu có) thì bà có thể gửi đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân quận 7 để yêu cầu Tòa án buộc công ty phải giải quyết thỏa đáng, đảm bảo đầy đủ quyền và lợi ích hợp pháp của bà.
Đối với việc xác định vị trí đất ở để áp dụng giá đất thì chỉ có đất mặt tiền và đất trong hẻm, chứ không phân biệt căn hộ của bà ở tầng nào. Vì thế, căn hộ của bà có ở tầng nào thì cũng đều tính theo vị trí mặt tiền của khu chung cư.
Câu hỏi 6: đất T bị chuyển thành đất nông nghiệp khi tách thửa, cấp sổ đỏ?
Năm 2001, tôi có mua một mảnh đất 160 m2 tại một quận ở TP. Hồ Chí Minh, có xác nhận của UBND phường. Mảnh đất đó nằm trong thửa đất 900 m2 có sổ đỏ cấp năm 1994, ghi mục đích sử dụng là T (thổ). Do quy hoạch treo nên tôi không thể xây nhà hoặc tách sổ riêng.

Năm 2010, tôi làm được sổ đỏ cho riêng phần 160 m2 mua, nhưng phần ghi mục đích sử dụng đất là đất nông nghiệp (BHK) với thời hạn sử dụng đến năm 2030. Trong khi trong bản vẽ của giấy chứng nhận có ghi chú toàn bộ đất xung quanh là đất thổ cư.
Tôi hỏi, Phòng Tài nguyên - môi trường trả lời tôi rằng: đất ghi là thổ trước đây thì nay theo quy định mới phải ghi là đất nông nghiệp. Xin hỏi, giải thích của Phòng Tài nguyên - môi trường có đúng không? Nếu đúng, tôi có được làm đơn xin chuyển mục đích sử dụng được không? Nếu ghi đất nông nghiệp như trên thì khi bị quy hoạch, giải tỏa tôi sẽ bị thiệt thòi, vì tôi đã mua đất theo giá đất thổ cư và thời điểm ấy mọi người mặc nhiên hiểu đất thổ tức là thổ cư.
Pháp luật đất đai hiện hành không có quy định đất có mục đích sử dụng là đất T (mục đích để ở) sẽ bị chuyển thành đất nông nghiệp khi người sử dụng đất tiến hành thủ tục tách thửa.
Vì vậy, nếu sổ đỏ được cấp năm 1994 nêu trên có thể hiện toàn bộ thửa đất (900 m2) có mục đích sử dụng là đất T thì Phòng Tài nguyên - môi trường quận không có quyền tự ý chuyển đổi mục đích thành đất nông nghiệp khi người sử dụng đất tiến hành thủ tục xin tách thửa từ thửa đất nêu trên và không có đơn xin chuyển mục đích sử dụng đất.
Theo đó, để được bảo vệ quyền lợi của mình, bà có quyền khiếu nại đến Chủ tịch UBND quận (nơi cấp sổ đỏ cho bà) theo quy định của pháp luật khiếu nại để khiếu nại về việc 160 m2 đất được tách từ 900 m2 có mục đích sử dụng đất là đất T (có mục đích để ở) đã bị chuyển mục đích sử dụng đất thành đất nông nghiệp trái quy định của pháp luật đất đai hiện hành (bị chuyển mục đích sử dụng đất khi người sử dụng đất không có đơn xin chuyển mục đích sử dụng đất).
Câu hỏi 7: đất phi nông nghiệp gồm những loại đất nào?
Tôi có đi xem một thửa đất mà người ta đã xây nhà dạng lầu đúc. Tôi hỏi thì họ nói đất này là đất phi nông nghiệp.

Xin hỏi, đất phi nông nghiệp là đất gì? Vị trí căn nhà đó ở xã Bà Điểm, huyện Hóc Môn. Chủ nhà nói rằng, khu đất này không có sổ đỏ riêng, chỉ có một sổ đỏ chung, khi mua thì họ sẽ photocopy sổ đỏ (có công chứng) và đưa cho mình một bản lưu giữ, đồng thời có một giấy sang nhượng quyền sử dụng đất bằng giấy tay. Xin hỏi, với giấy tờ như vậy thì đất mua có hợp lệ hay không?
Khoản 2, Điều 10 Luật đai năm 2013 có quy định “nhóm đất phi nông nghiệp bao gồm các loại đất”:
a) Đất ở gồm đất ở tại nông thôn, đất ở tại đô thị;
b) Đất xây dựng trụ sở cơ quan;
c) Đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, anh ninh;
d) Đất xây dựng công trình sự nghiệp gồm đất xây dựng trụ sở của tổ chức sự nghiệp; đất xây dựng cơ sở văn hóa, xã hội, y tế, giáo dục và đào tạo, thể dục thể thao, khoa học và công nghệ, ngoại giao và công trình sự nghiệp khác;
đ) Đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp gồm đất khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất; đất thương mại, dịch vụ; đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp; đất sử dụng cho hoạt động khoáng sản; đất sản xuất vật liệu xây dựng, làm đồ gốm;
e) Đất sử dụng vào mục đích công cộng gồm đất giao thông (gồm cảng hàng không, sân bay, cảng đường thủy nội địa, cảng hàng hải, hệ thống đường sắt, hệ thống đường bộ và công trinh giao thông khác); thủy lợi; đất có di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh; đất sinh hoạt cộng đồng, khu vui chơi, giải trí công cộng; đất công trình năng lượng; đất công trình bưu chính, viễn thông; đất chợ; đất bãi thải, xử lý chất thải và đất công trình công cộng khác;
g) Đất cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng;
h) Đất làm nghĩa trang, nghĩa địa, nhà tang lễ, nhà hỏa táng;
i) Đất sông, ngòi, kênh, rạch, suối và mặt nước chuyên dùng;
k) Đất phi nông nghiệp khác gồm đất làm nhà nghỉ, lán, trại cho người lao động trong cơ sở sản xuất; đất xây dựng kho và nhà để chứa nông sản, thuốc bảo vệ thực vật, phân bón, máy móc, công cụ phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và đất xây dựng công trình khác của người sử dụng đất không nhằm mục đích kinh doanh mà công trình đó không gắn liền với đất ở.
Theo quy định pháp luật, đất phải có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ) thì mới được thực hiện giao dịch. Chỉ khi nào người bán đất có số đỏ thì mới tiến hành làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Khi chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì sẽ tiến hành làm thủ tục để mỗi người được cấp một giấy chứng nhận quyền sử dụng đất độc lập (nếu tách thửa đất được). Việc mua bán đất chỉ bằng giấy tờ tay là chưa đúng quy định pháp luật và sẽ có nhiều bất lợi trong quá trình giao dịch.
Câu hỏi 8: lối đi qua đất thuộc quyền sử dụng của người khác?
Tôi có phần đất để cất nhà ở, nằm hướng đông phần đất của ông L.V.T. Ông T không cho tôi đi qua đất của ông. Ông T đã rào lại làm mất lối đi. Gia đình tôi phải đi theo lối bờ ruộng, rất bất tiện. Đầu năm 2009, tôi đã làm đơn kiện ra Tòa án.

Bản án sơ thẩm của Tòa án huyện Gò Công Tây xử buộc ông T phải có trách nhiệm tạo lối đi cho gia đình tôi. Thế nhưng, bản án phúc thẩm của Tòa án tỉnh Tiền Giang lại bác toàn bộ bản án sơ thẩm, tuyên ông T thắng kiện. Xin hỏi, Tòa án tỉnh Tiền Giang xử như vậy có đúng không?
Qua đơn trình bày và hồ sơ kèm theo, cho thấy: mặc dù đất của ông L.V.T chưa có sổ đỏ nhưng đây là đất thừa kế nên thuộc quyền sử dụng của ông T. Tòa án nhân dân huyện Gò Công Tây đã áp dụng Điều 275 Bộ luật Dân sự 2005 “Quyền về lối đi qua bất động sản liền kề” để tuyên buộc ông T phải có trách nhiệm tạo lối đi cho gia đình ông.
Tuy nhiên, Điều 275 Bộ luật Dân sự 2005 quy định một chủ bất động sản liền kề phải tạo lối đi cho một chủ bất động sản bị vây bọc bởi các bất động sản của các chủ sở hữu khác mà không có lối đi ra.
Ở trường hợp của ông, gia đình ông đã có lối đi theo bờ ruộng. Hơn nữa, tại phiên tòa phúc thẩm, ông T nói rằng “nếu gia đình ông không đi theo lối bờ ruộng thì ông T cũng đồng ý cho đi ngang đất của ông ấy nhưng là lối đi khác do ông T chỉ định”.
Vì vậy, phán quyết của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang là phù hợp pháp luật. Ông không thể tự đòi lối đi qua đất của người khác mà người khác không đồng ý, khi nhà của ông có lối đi.
Phiên bản video