Kế toán & tình huống pháp lý – Phần 13
Hợp đồng trao đổi tài sản
Video trước: Kế toán & tình huống pháp lý – Phần 12
Tình huống 37: trao đổi điện thoại di động
Cháu Lê Quang Đ (16 tuổi) là học sinh lớp 11 trường THPT X. Nhân ngày sinh nhật, cháu được bố mẹ tặng một chiếc điện thoại nhãn hiệu Oppo trị giá 3 triệu đồng. Sau khi dùng một thời gian, cháu Đ mang chiếc điện thoại đổi cho một người bạn cùng lớp để lấy chiếc điện thoại iPhone 4 cũ. Người bạn của Đ đảm bảo chiếc iPhone này còn bảo hành, chưa bị sửa chữa lần nào và chất lượng sử dụng tốt.

Tuy nhiên, sau khi dùng được 3 ngày, Đ thấy điện thoại liên tục bị trục trặc và hỏng nên Đ đã mang chiếc điện thoại này ra cửa hàng người bạn mua để yêu cầu sửa chữa thì được cửa hàng cung cấp thông tin là chiếc điện thoại iPhone 4 này do người bạn của Đ mua hàng cũ tại cửa hàng; trong quá trình sử dụng, người bạn của Đ cũng đã sửa chữa 2 lần tại cửa hàng có liên quan đến vấn đề màn hình và cảm ứng; đồng thời, chiếc điện thoại này chỉ được bảo hành trong thời gian 1 tháng và đã hết thời gian bảo hành.
Biết được thông tin, Đ yêu cầu bạn mình trả lại điện thoại Oppo và đưa lại chiếc iPhone 4 nhưng người bạn không đồng ý với lý do Đ đã dùng hỏng. Vậy, tình huống này sẽ được giải quyết như thế nào theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015?
Giải đáp (tư vấn) tình huống 37
Trong tình huống trên có hai hợp đồng dân sự: (i) Hợp đồng tặng cho tài sản giữa bố mẹ Đ và Đ; (ii) Hợp đồng trao đổi tài sản giữa Đ và bạn cùng lớp với Đ.
Hợp đồng tặng cho tài sản thỏa mãn đầy đủ các điều kiện có hiệu lực tại Điều 117 Bộ luật dân sự năm 2015 nên phát sinh hiệu lực. Hợp đồng này có hiệu lực kể từ thời điểm Đ nhận được chiếc điện thoại di động nên chiếc điện thoại thuộc sở hữu của Đ và Đ được quyền định đoạt đôi với chiếc điện thoại.
Theo quy định tại khoản 4 Điều 21 Bộ luật dân sự năm 2015: “Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, trừ giao dịch dân sự liên quan đến bất động sản, động sản phải đăng ký và giao dịch dân sự khác theo quy định của luật phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý”. Trong trường hợp này, hợp đồng trao đổi tài sản của Đ và người bạn không nằm trong trường hợp khi xác lập phải được sự đồng của người đại diện nên Đ có toàn quyền thực hiện việc trao đổi điện thoại với bạn mình.
Sau khi đã trao đổi tài sản thì Đ trở thành chủ sở hữu của chiếc điện thoại iPhone 4; còn bạn Đ được quyền sở hữu đối với chiếc điện thoại Oppo. Sau khi dùng 3 ngày, chiếc điện thoại iPhone bị lỗi & hỏng... và các thông tin mà người bạn của Đ cung cấp hoàn toàn sai sự thật với thông tin cửa hàng cung cấp.
Bởi vậy, Đ có thể khởi kiện ra tòa & yêu cầu tòa án tuyên bố hợp đồng trao đổi bị vô hiệu do Đ bị lừa dối theo Điều 127 Bộ luật dân sự năm 2015: “Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bi lừa dối hoặc bị đe dọa, cưỡng ép thì có quyền yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu”.
Khi hợp đồng trao đổi tài sản bị tuyên bố vô hiệu thì Đ được quyền đòi lại chiếc điện thoại Oppo của mình và trả lại iPhone 4 cho người bạn theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 131 Bộ luật dân sự năm 2015:
- Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập.
- Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.
Tình huống 38: trao đổi laptop & máy vi tính bàn
Trần Văn T là sinh viên Đại học Luật năm thứ 2. Vì phải thường xuyên làm bài tập nên T có mượn chiếc laptop nhãn hiệu Dell của chị gái. Sau đó, chị gái T mua chiếc laptop mới nên T sử dụng lâu dài chiếc máy mượn của chị mình.

Sau hơn hai năm sử dụng, chiếc máy cũ thường xuyên hỏng và bị lỗi nên T mang chiếc laptop này ra cửa hàng mua bán laptop cũ để đổi lấy một bộ máy tính bàn và trả thêm cho cửa hàng 700.000 đồng. Biết chuyện, chị gái T cho rằng do em trai mình không biết giá trị chiếc laptop nên đã bị lỗ khi đổi và yêu cầu cửa hàng phải trả lại cho em mình 700.000 đồng nhưng đại diện cửa hàng không đồng ý vì cho rằng cửa hàng giao dịch với T chứ không giao dịch với chị gái T.
Vậy, theo Bộ luật dân sự năm 2015, đại diện cửa hàng trả lời như vậy có đúng không?
Giải đáp (tư vấn) tình huống 38
Chiếc laptop T mượn từ chị gái nên T chỉ có quyền sử dụng mà không được quyền định đoạt tài sản. Chị gái T mới là chủ sở hữu của chiếc laptop, bởi vì vậy theo khoản 3 Điều 455 Bộ luật dân sự năm 2015: “Trường hợp một bên trao đổi cho bên kia tài sản không thuộc quyền sở hữu của mình hoặc không được chủ sở hữu ủy quyền thì bên kia có quyền hủy bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại”.
Chị gái T với tư cách là chủ sở hữu tài sản có quyền yêu cầu hủy bỏ hợp đồng trao đổi tài sản giữa T và cửa hàng mua bán laptop. Hậu quả của việc hủy bỏ hợp đồng được giải quyết theo Điều 427 Bộ luật dân sự năm 2015, cụ thể:
Hợp đồng trao đổi tài sản giữa T và cửa hàng mua bán laptop không có hiệu lực từ thời điểm giao kết, các bên không phải thực hiện nghĩa vụ thỏa thuận.
Các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận sau khi trừ chi phí hợp lý trong thực hiện hợp đồng và chi phí bảo quản, phát triển tài sản. Cụ thể, cửa hàng trả lại cho chị T laptop cùng với 700.000 đồng và em trai chị T trả lại cho cửa hàng bộ máy tính bàn.
Bên bị thiệt hại do hành vi vi phạm nghĩa vụ của bên kia được bồi thường (nếu có).
Tình huống 39: trao đổi nhà
Do chơi lô đề, cờ bạc nên anh Nguyễn Văn N đã thế chấp nhà để vay của ngân hàng X số tiền 3 tỷ đồng. Sau đó, qua quen biết với anh M là người chuyên làm các giấy tờ giả, anh N đã nhờ anh M làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (số đỏ) giả cho nhà đất của mình với chi phí 20 triệu đồng. Sắp đến hạn trả nợ, anh N không có khả năng chi trả, sợ ngân hàng đến lấy nhà nên anh N đã thỏa thuận với anh K về việc đổi nhà đất cho anh K. Nhà anh K có diện tích 30m2 ở trong ngõ; còn nhà anh N có diện tích 50m2 lại ở mặt đường to, ô tô vào được nên khi đổi nhà anh K đưa thêm cho anh N số tiền là 1,5 tỷ đồng.

Hai bên đã lập văn bản và ký tên đầy đủ cũng như trao sổ đỏ cho nhau và không qua cơ quan công chứng. Vì sổ đỏ giả làm rất tinh vi và anh K cũng không có kiến thức sâu về vấn đề này nên không biết. Sau khi dọn đến nhà mới được 1 tháng thì ngân hàng X cho người xuống làm việc và niêm phong căn nhà với lý do nhà này anh N đã thế chấp và yêu cầu gia đình anh K chuyển ra khỏi nhà.
Đến lúc này, K mới biết thực chất đã bị N lừa, yêu cầu N phải trả lại K căn nhà cùng với số tiền 1,5 tỷ đồng. Vậy, theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015, yêu cầu của K được chấp nhận hay không?
Giải đáp (tư vấn) tình huống 39
Trường hợp này, M và N có thể sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự về các tội đánh bạc và sử dụng giấy tờ giả, lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Về trách nhiệm dân sự, theo Bộ luật dân sự năm 2015, hợp đồng lập giữa N và K là hợp đồng trao đổi tài sản. Hợp đồng này bị vô hiệu vì không thỏa mãn các điều kiện theo quy định tại Điều 117 Bộ luật dân sự năm 2015. Cụ thể, hợp đồng này vi phạm các điều kiện sau:
- Vi phạm điều kiện “chủ thể tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện”. Thực chất, nhà đất của N đã mang đi thế chấp cho ngân hàng X nhưng N lại làm sổ đỏ giả để trao đổi với K, nên N đã có hành vi lừa dối K.
- Vi phạm điều kiện về hình thức của hợp đồng. Vì theo khoản 2 Điều 455 Bộ luật dân sự năn 2015 “Hợp đồng trao đổi tài sản phải được lập thành văn bản, có công chứng, chứng thực hoặc đăng ký nếu pháp luật có quy định”. Bên cạnh đó, điểm a khoản 3 Điều 167 Luật đất đai năm 2013 quy định: “Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực”.
Hợp đồng trao đổi tài sản vi phạm 2 điều kiện trên thì xử như sau:
- Đối với vi phạm về hình thức thì áp dụng quy định tại khoản 2 Điều 129 Bộ luật dân sự năm 2015: “Giao dịch dân sự đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó. Trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực”.
- Đối với hợp đồng trao đổi được xác lập bởi K thì K có quyền yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối theo Điều 127 Bộ luật dân sự năm2015: “Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa, cưỡng ép thì có quyền yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu”.
Trong tình huống trên, K muốn đòi lại căn nhà và 1,5 tỷ đồng từ N nên có đủ căn cứ pháp luật để yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu. Khi giao dịch trao đổi tài sản bị vô hiệu thì hậu quả pháp lý được giải quyết theo Điều 131 Bộ luật dân sự năm 2015, cụ thể như sau:
- Hợp đồng trao đổi giữa N và K không có hiệu lực từ thời điểm giao kết.
- N và K phải hoàn trả lại cho nhau những gì đã nhận, cụ thể là K phải trả lại căn nhà cùng sổ đỏ giả cho N và N phải trả lại nhà cùng với 1,5 tỷ đồng và sổ đỏ (của K) cho K.
Phiên bản video